Tổng hợp các thuật ngữ về ảnh số nói chung.
1. Artifacts - ảnh giả
Là các yếu tố ảnh tạo ra bởi sự sai lệch trong quá trình tiếp nhận, xử lý, tái tạo dữ liệu ánh sáng của sensor, ống kính, thuật toán v.v.
1a. Blooming - cháy lem
xảy ra khi một số tế bào của cảm biến nhận thừa quá nhiều ánh sáng cần thiết, kết quả là ảnh cháy, và cháy lây cả sang các vùng tối của ảnh
1b. Jaggies - răng cưa
Ảnh số được tạo nên bởi các điểm chấm màu, gọi là pixel = Picture Elements
Nó có hiện tượng răng cưa ở mép của các chi tiết, nhất là khi phóng lớn
1c. Mất mát dữ liệu khi nén - JPEG
JPEG là một định dạng ảnh số rất phổ biến: tương thích rộng với trình xử lý ảnh, trình duyệt, và có kích thước tương đối gọn nhẹ.
JPEG là viết tắt của Joint Photographic Experts Group
Nói nôm na thì JPEG chia thông tin ảnh số ra làm 2 phần: màu và chi tiết. Nó nén phần màu nhiều hơn so với phần chi tiết, bởi vì mắt người nhạy cảm với chi tiết hơn là với màu sắc. Ngoài ra, nó còn chia thông tin ảnh số ra thêm thành phần mịn mượt (fine) và phần thô (coarse). Nó sẽ ưu tiên nén nhiều phần fine, nén coarse ít hơn. Cũng vì lý do mắt người nhạy cảm hơn đối với vùng thô.
Khi biết nguyên tắc nén & mất dữ liệu của JPEG, khi xử lý ảnh, nhất là xử lý nhiều công đoạn, cần phải lưu giữ kết quả trung gian, người ta ưu tiên lưu KQTG thành dạng không nén (TIFF, RAW), chỉ xuất ra JPEG phần KẾT QUẢ CUỐI CÙNG MÀ THÔI.
Vì vậy, hãy ưu tiên chụp RAW nếu bạn có thể. Còn nếu bắt buộc phải chụp JPEG thì hãy ưu tiên JPEG FINE.
- RAW, như chính cái tên của nó, là phần dữ liệu số của một bức ảnh do sensor ghi lại, không hề qua xử lý (hoặc xử lý rất ít). RAW chính là "nguyên liệu thô".
Do không bị qua xử lý, nên RAW chứa đựng nhiều thông tin chi tiết nhất của bức hình do sensor ghi lại. Tuỳ theo bộ chuyển đổi tương tự-số (Analog-Digital Converter) của máy ảnh, mà RAW có thể là 12bits hoặc 14 bits
Không có một định dạng RAW thống nhất, mà mỗi hãng máy ảnh tự đưa ra dạng thức file RAW của mình, và cung cấp kèm theo phần mềm xử lý để chuyển đổi sang các dạng thức file khác. Nikon-NEF, CANON-CR2, PENTAX-PEF etc.
- JPEG là viết tắt các chữ cái đầu của tổ chức Joint Photographic Experts Group, thành lập năm 1986, đưa ra tiêu chuẩn lưu trữ hình ảnh số JPEG năm 1992
Thuật toán nén hình ảnh của JPEG là thuật toán "nén và mất dữ liệu". Nói nôm na thì JPEG chia thông tin hình ảnh ra làm 2 phần: chi tiết và màu sắc. Nó ưu tiên giữ lại phần chi tiết, trong khi bỏ qua rất nhiều thông tin màu sắc (vì mắt người nhạy cảm với chi tiết hơn là màu sắc)
Ngoài ra, trong phần chi tiết, JPEG ưu tiên giữ lại phần "chi tiết thô" (coarse) mà bỏ qua nhiều "chi tiết tinh" (fine) cũng là do mắt người nhạy cảm với "phần thô" hơn là "phần tinh"
JPEG có kích thước nhỏ gọn, tương thích rộng với các trình xử lý ảnh, trình duyệt web, v.v. và là định dạng ảnh phổ biến nhất trên Internet hiện nay.
Do bản chất của JPEG là "nén và mất dữ liệu", trong đó phần đã mất là KHÔNG THỂ PHỤC HỒI ĐƯỢC, người ta khuyến cáo không nên dùng JPEG để lưu giữ các KẾT QUẢ TRUNG GIAN HOẶC CÁC TIẾN TRÌNH DANG DỞ. Chỉ nên xuất ra dạng JPEG những kết quả cuối cùng mà thôi.
Chính vì vậy, để đáp ứng nhu cầu nhiếp ảnh chuyên nghiệp, các máy ảnh số cao cấp đều có khả năng lưu giữ file RAW, thay vì là JPEG.
Khi chụp và lưu ảnh ở dạng JPEG, chúng ta đã chấp nhận sự xử lý của máy ảnh, và đã mất mát khá nhiều thông tin về color, và phần fine của hình ảnh.
- TIFF là một dạng thức lưu trữ hình ảnh khác với JPEG, nó có khả năng NÉN MÀ KHÔNG MẤT DỮ LIỆU. TIFF khác với RAW vì vốn là một chuẩn hình ảnh sử dụng cho chế bản văn phòng, cho in ấn, nó có thể chứa đựng những hình ảnh có nhiều layer, hoặc một file TIFF có thể chứa nhiều trang văn bản, nhiều hình ảnh.
Tuy nhiên, TIFF có dung lượng rất lớn và chất lượng ảnh cũng không tốt bằng RAW. Vì vậy, TIFF được dùng trên máy tính nhiều hơn là máy ảnh số.
1d. Halo : quầng sáng
2a. Digital Zoom - Phóng lớn ảnh bằng kỹ thuật số.
Các Camera du lịch nhỏ (compact-PnS) do hạn chế về ống kính không thay đổi được, nên được trang bị công nghệ Digital Zoom để phóng lớn ảnh hơn mức mà ống kính của nó có thể thấy rõ.
Ví dụ: Trường nhìn của ống kính chỉ thu được một frame hình 1,600 x 1,200px, nhưng máy ảnh vẫn ghi lại một bức ảnh 2,560 x 1,920px nhờ Digital Zoom 1.6x
Digital Zoom sử dụng thuật toán để cho ra kết quả, các điểm thiếu được suy luận rồi thêm vào ảnh. Vì thế, nó không phản ánh trung thực hình ảnh cuộc sống. Nói chung ảnh được chụp với Digital Zoom là không đẹp, không chi tiết, nhưng lại có thể ghi lại hình ảnh tạm đủ để xem, mà nếu thiếu zoom thì nó quá bé.
2b - Optical Zoom - Zoom quang học
Sử dụng ống kính zoom, thay đổi tiêu cự của nó để phóng lớn hình. Optical zoom cho hình ảnh trung thực và sắc nét hơn so với digital zoom.
3. Color Space - tạm dịch là Không gian màu sắc
Các hình ảnh trong cuộc sống thật được tạo nên bởi VÔ SỐ MÀU.
Mắt người nhạy cảm với một số lượng màu rất lớn, trong khi đó, các thiết bị thu nhận và tái tạo, cũng như các chương trình xử lý ảnh số phổ biến, chỉ làm việc với một số lượng màu ít hơn nhiều.
Trong hình minh hoạ dưới, ta sẽ thấy, mắt người có thể thu nhận (hoặc phân biệt) số lượng màu trong vùng LAB color, trong khi màn hình máy tính thì chỉ làm việc trong không gian sRGB, các máy in thì làm việc trong không gian CMYK, còn riêng Photoshop thì được thiết kế để làm việc với không gian màu Adobe RGB.
Vì thế, ta cần thiết đặt nhiều thứ về quản lý màu sắc, để có được kết quả cuối cùng như ý (Calibrate màn hình, máy in, photoshop, rồi khi kết xuất, cần lưu ý đến phương tiện tái tạo nó - máy in hay màn hình, etc)

Theo vnphoto.